TrungTamThuongHieu.comTrung Tâm Thương Hiệu
Thương hiệu Việt

Chương trình Thương hiệu quốc gia Vietnam Value: giá trị cốt lõi và cách tham gia

Vietnam Value là chương trình xúc tiến thương mại dài hạn do Bộ Công Thương chủ trì. Ba giá trị cốt lõi, quy trình xét chọn, lợi ích thật và giới hạn với doanh nghiệp.

Close-up of Vietnamese hands placing finished ceramic tea sets into a padded export crate on a factory floor, warm tungsten light, shallow depth of field, terracotta and cream tones

Chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam, gắn với biểu trưng Vietnam Value, là chương trình xúc tiến thương mại dài hạn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 2003, do Bộ Công Thương làm cơ quan thường trực. Mục tiêu là quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua những sản phẩm và doanh nghiệp được xét chọn theo ba giá trị: chất lượng, đổi mới sáng tạo và năng lực tiên phong.

Chương trình không phải một giấy chứng nhận chất lượng, cũng không phải một nhãn hiệu doanh nghiệp được tự do gắn lên hàng. Nó là cơ chế chọn lọc và đồng hành: doanh nghiệp có sản phẩm được chọn sẽ được dùng biểu trưng theo quy chế và tham gia các hoạt động xúc tiến chung. Bài này giải thích chương trình vận hành ra sao, doanh nghiệp được gì, và những điểm cần tính kỹ trước khi đầu tư công sức vào hồ sơ.

Chương trình ra đời và vận hành thế nào

Chương trình được phê duyệt năm 2003, trong giai đoạn Việt Nam đẩy mạnh hội nhập và chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Ý tưởng nền là dùng chính những doanh nghiệp làm tốt nhất để đại diện cho năng lực sản xuất của đất nước, thay vì quảng bá chung chung. Từ năm 2008, chương trình tổ chức xét chọn định kỳ, theo chu kỳ hai năm một lần; danh sách sản phẩm được chọn được công bố công khai sau mỗi kỳ.

Về tổ chức, Bộ Công Thương giữ vai trò thường trực, với đơn vị giúp việc là cơ quan xúc tiến thương mại của bộ. Hội đồng xét chọn gồm đại diện các bộ, ngành, hiệp hội và chuyên gia. Quy chế xét chọn, tiêu chí chấm điểm và quyền lợi, nghĩa vụ đã được sửa đổi qua các giai đoạn, nên doanh nghiệp cần đọc văn bản hiện hành trên cổng thông tin chính thức của chương trình thay vì dựa vào bài viết cũ.

Cũng nên đặt chương trình trong bức tranh rộng hơn về thương hiệu quốc gia. Lý thuyết nation branding cho thấy hình ảnh một nước thay đổi chậm và chủ yếu nhờ trải nghiệm thật với hàng hoá, con người, điểm đến. Cách tiếp cận chọn doanh nghiệp tiêu biểu làm đại diện phù hợp với nhận định đó hơn là quảng cáo quốc gia đơn thuần: thay vì nói Việt Nam làm hàng tốt, chương trình đưa ra những sản phẩm cụ thể để người mua tự kiểm chứng. Giới hạn nằm ở quy mô: số sản phẩm được chọn mỗi kỳ là một phần rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu, phần lớn vẫn đi dưới thương hiệu của bên mua, nên tác động lên hình ảnh chung phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp được chọn có thật sự hiện diện ở thị trường nước ngoài bằng thương hiệu riêng hay không.

Điểm cần nhớ là chương trình chọn sản phẩm của doanh nghiệp chứ không cấp danh hiệu cho toàn bộ doanh nghiệp. Một công ty có nhiều dòng hàng có thể chỉ có một vài sản phẩm được chọn, và chỉ những sản phẩm đó được gắn biểu trưng.

Ba giá trị cốt lõi và cách hiểu thực tế

Chất lượng. Không chỉ là sản phẩm đạt tiêu chuẩn, mà là hệ thống đảm bảo chất lượng ổn định: tiêu chuẩn áp dụng, chứng nhận hệ thống quản lý, khiếu nại khách hàng và cách xử lý, kết quả kiểm định độc lập. Hội đồng nhìn vào bằng chứng lặp lại qua thời gian, không chỉ một lô hàng đẹp.

Đổi mới, sáng tạo. Thể hiện qua sản phẩm mới, cải tiến quy trình, đầu tư nghiên cứu phát triển, tài sản trí tuệ như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu đã đăng ký. Một doanh nghiệp sản xuất truyền thống vẫn có thể chứng minh đổi mới qua quy trình, bao bì, kênh bán hay cách quản trị.

Năng lực tiên phong. Khả năng dẫn dắt trong ngành: tầm nhìn, năng lực quản trị, vị trí thị trường, đóng góp cho cộng đồng và trách nhiệm xã hội, khả năng cạnh tranh quốc tế. Đây là phần khó lượng hoá nhất và thường phân biệt doanh nghiệp được chọn với doanh nghiệp chỉ làm tốt sản phẩm.

Cách đọc ba giá trị như một bài tự đánh giá. Kể cả khi chưa định nộp hồ sơ, ba giá trị này là một khung kiểm tra hữu ích: doanh nghiệp có bằng chứng cho từng giá trị không, hay chỉ có lời tự khẳng định? Câu trả lời trung thực thường chỉ ra đúng những việc cần làm trong hai, ba năm tới.

Quy trình tham gia: các bước chung

Trình tự dưới đây mô tả khung chung qua các kỳ; thời hạn, mẫu hồ sơ và tiêu chí chấm cụ thể theo thông báo của từng kỳ xét chọn, doanh nghiệp cần kiểm tại cổng thông tin chính thức.

  1. Tự đánh giá điều kiện. Đọc quy chế hiện hành, xác định sản phẩm nào đủ điều kiện, kiểm tra tình trạng tuân thủ thuế, môi trường, lao động và nhãn hiệu đã được bảo hộ.
  2. Chọn sản phẩm dự tuyển. Ưu tiên sản phẩm có bằng chứng chất lượng dày nhất và có kế hoạch xuất khẩu hoặc mở rộng thị trường rõ, thay vì đưa toàn bộ danh mục.
  3. Chuẩn bị hồ sơ bằng chứng. Chứng nhận, kết quả thử nghiệm, số liệu tài chính đã kiểm toán nếu có, hồ sơ nhãn hiệu, tài liệu về đổi mới và hoạt động cộng đồng. Hồ sơ mạnh là hồ sơ có tài liệu gốc, không phải hồ sơ nhiều trang.
  4. Nộp hồ sơ và tham gia thẩm định. Hội đồng có thể khảo sát thực tế, đề nghị bổ sung tài liệu.
  5. Công bố và ký cam kết sử dụng biểu trưng. Sản phẩm được chọn được dùng biểu trưng theo quy chế trong thời hạn của kỳ.
  6. Duy trì và tái xét. Giữ các điều kiện trong suốt thời hạn, tham gia hoạt động chung, chuẩn bị cho kỳ xét chọn tiếp theo nếu muốn tiếp tục.

Bằng chứng cần có cho từng giá trị

Hội đồng chấm trên tài liệu. Bảng dưới gợi ý loại bằng chứng thường thuyết phục và lỗi hay gặp khi doanh nghiệp tự soạn hồ sơ; danh mục chính thức theo mẫu của từng kỳ.

Giá trịBằng chứng thuyết phụcLỗi hay gặp
Chất lượngChứng nhận hệ thống quản lý còn hiệu lực, kết quả thử nghiệm của phòng thí nghiệm độc lập, thống kê khiếu nại và tỷ lệ xử lý qua vài nămChỉ nộp một phiếu kiểm nghiệm đẹp, không có dữ liệu theo thời gian
Đổi mới, sáng tạoVăn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu; danh sách sản phẩm mới kèm năm ra mắt; ngân sách nghiên cứu phát triểnMô tả đổi mới bằng tính từ, không có mốc thời gian hay kết quả đo được
Năng lực tiên phongThị phần hoặc vị trí ngành có nguồn, hợp đồng xuất khẩu, báo cáo trách nhiệm xã hội có số liệu thật, giải thưởng có uy tínLiệt kê danh hiệu không rõ đơn vị trao, hoạt động thiện nguyện không gắn với chiến lược
Tuân thủ chungXác nhận nghĩa vụ thuế, hồ sơ môi trường, hồ sơ lao động, giấy chứng nhận nhãn hiệuNhãn hiệu sản phẩm dự tuyển chưa được cấp văn bằng hoặc đứng tên cá nhân khác

Một mẹo thực tế: lập thư mục bằng chứng theo đúng bốn hàng trên và cập nhật quanh năm, thay vì đợi tới kỳ xét chọn mới đi gom. Thư mục đó còn dùng được cho hồ sơ thầu, hồ sơ gửi nhà nhập khẩu và kiểm toán của khách hàng lớn.

Lợi ích thật và kỳ vọng nên điều chỉnh

Doanh nghiệp hay đánh giá quá cao hoặc quá thấp giá trị của việc được chọn. Bảng dưới tách điều chương trình mang lại với điều nó không thể thay thế.

Khía cạnhChương trình hỗ trợ đượcKhông thay thế được
Uy tín với đối tácMột tín hiệu được nhà nước xét chọn, hữu ích với đối tác B2B, nhà phân phối mới, gói thầuUy tín của chính thương hiệu doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối
Xúc tiến thương mạiCơ hội tham gia hội chợ, đoàn giao thương, ấn phẩm giới thiệu chungKế hoạch bán hàng, đội ngũ và ngân sách thị trường riêng
Truyền thôngXuất hiện trong danh sách công bố, sự kiện, bài viết về chương trìnhChiến lược truyền thông thương hiệu dài hạn
Nội bộMột mục tiêu chung để chuẩn hoá hồ sơ chất lượng, đổi mớiVăn hoá chất lượng thật trong vận hành hằng ngày
Người tiêu dùng nước ngoàiHạn chế: biểu trưng chưa phải ký hiệu quen thuộc với đa số người mua ở nước ngoàiNhãn hiệu, chứng nhận quốc tế mà người mua ở đó tin

Cách nhìn thực tế: coi việc được chọn là một bằng chứng bổ sung trong hồ sơ năng lực và một cơ hội kết nối, không phải một chiến lược thương hiệu. Doanh nghiệp đã có thương hiệu mạnh nhận thêm ít giá trị biên; doanh nghiệp vừa và đang mở rộng sang B2B hoặc xuất khẩu thường nhận nhiều giá trị nhất.

Những điểm cần tính kỹ trước khi đầu tư hồ sơ

Chi phí cơ hội của đội ngũ. Hồ sơ tốt đòi hỏi nhân sự chất lượng, pháp chế, tài chính, kỹ thuật tập hợp tài liệu trong nhiều tuần. Nếu doanh nghiệp chưa có hệ thống lưu trữ bằng chứng, việc làm hồ sơ sẽ bộc lộ khoảng trống đó; đây vừa là chi phí vừa là lợi ích, vì sớm muộn cũng phải làm.

Nghĩa vụ đi kèm biểu trưng. Biểu trưng chỉ được dùng cho đúng sản phẩm được chọn, đúng thời hạn, đúng quy chế trình bày. Gắn lên sản phẩm khác, dùng sau khi hết hạn hay dùng sai cách đều có thể bị xử lý và gây hại uy tín. Bộ phận marketing cần được phổ biến rõ trước khi in bao bì.

Không nhầm với giải thưởng bình chọn khác. Thị trường có nhiều danh hiệu, giải thưởng do hiệp hội, báo chí hay đơn vị tư nhân tổ chức, có cái uy tín, có cái thiên về thu phí. Chương trình Thương hiệu quốc gia là chương trình của nhà nước; doanh nghiệp nên phân biệt rõ khi truyền thông và khi đánh giá lời mời tham gia các danh hiệu khác.

Đồng bộ với bảo hộ nhãn hiệu. Sản phẩm được quảng bá rộng mà nhãn hiệu chưa được bảo hộ ở thị trường xuất khẩu là rủi ro thật. Trước khi đẩy mạnh xúc tiến, rà lại tình trạng nhãn hiệu ở từng thị trường mục tiêu.

Câu hỏi thường gặp

Biểu trưng Vietnam Value có phải là chứng nhận chất lượng sản phẩm không?

Không. Đây là biểu trưng của một chương trình xúc tiến thương mại, xác nhận sản phẩm đã được xét chọn theo ba giá trị của chương trình. Nó không thay thế chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy hay chứng nhận quốc tế mà thị trường nhập khẩu yêu cầu, và không có giá trị pháp lý như một kết quả thử nghiệm.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ hội được chọn không?

Quy chế không giới hạn theo quy mô, nhưng tiêu chí về năng lực tiên phong và đổi mới thường đòi hỏi bằng chứng mà doanh nghiệp lớn dễ có hơn. Doanh nghiệp nhỏ có cơ hội khi có sản phẩm nổi bật thật sự, hồ sơ chất lượng đầy đủ và câu chuyện đổi mới rõ ràng, thay vì cố gắng cạnh tranh bằng quy mô.

Một doanh nghiệp có thể gắn biểu trưng lên mọi sản phẩm sau khi được chọn không?

Không. Biểu trưng gắn với sản phẩm được xét chọn và trong thời hạn của kỳ. Gắn lên sản phẩm khác hoặc dùng quá hạn là vi phạm quy chế. Khi truyền thông về doanh nghiệp, cần nói rõ sản phẩm nào được chọn để tránh gây hiểu nhầm cho người tiêu dùng và đối tác.

Làm sao biết thông tin về chương trình là chính xác và mới nhất?

Nguồn đáng tin nhất là cổng thông tin chính thức của chương trình và văn bản của Bộ Công Thương. Quy chế, tiêu chí và thời hạn đã thay đổi qua các kỳ, nên bài viết báo chí hay tài liệu tư vấn cũ có thể lỗi thời. Khi nhận lời mời tham gia từ bên thứ ba, nên đối chiếu với nguồn chính thức.

Có nên đưa biểu trưng lên bao bì hàng xuất khẩu không?

Có thể, nếu đúng quy chế và sản phẩm đó được chọn, nhưng nên cân nhắc giá trị với người mua ở thị trường đích, nơi biểu trưng có thể chưa quen thuộc. Với đối tác B2B và hội chợ, giới thiệu trong hồ sơ năng lực thường hiệu quả hơn. Trên bao bì bán lẻ, ưu tiên các chứng nhận người mua bản địa nhận ra.

Không được chọn thì có ảnh hưởng gì tới thương hiệu không?

Không có hệ quả pháp lý hay công khai nào, vì danh sách công bố chỉ gồm sản phẩm được chọn. Điều có giá trị là phản hồi rút ra từ quá trình chuẩn bị: hồ sơ còn thiếu bằng chứng ở đâu, quy trình nào chưa chuẩn. Nhiều doanh nghiệp dùng chính bộ tiêu chí làm lộ trình cải thiện cho kỳ sau.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.