TrungTamThuongHieu.comTrung Tâm Thương Hiệu
Bảo hộ nhãn hiệu

Bảng phân loại Nice: cách chọn nhóm sản phẩm, dịch vụ khi đăng ký nhãn hiệu

Bảng phân loại Nice chia sản phẩm, dịch vụ thành 45 nhóm. Bài giải thích cách đọc bảng, chọn nhóm theo mô hình kinh doanh, nhóm 35 và lỗi khiến nhãn hiệu hở sườn.

Top-down photo of neatly sorted rows of small product samples, coffee beans, fabric swatches, ceramic cups and seed packets without markings, on pale grey linen, even soft studio light

Bảng phân loại Nice là hệ thống phân loại quốc tế chia hàng hoá và dịch vụ thành 45 nhóm: nhóm 1 đến 34 là hàng hoá, nhóm 35 đến 45 là dịch vụ. Khi đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam và hầu hết các nước, bạn phải liệt kê sản phẩm, dịch vụ muốn bảo hộ và xếp chúng vào các nhóm này.

Chọn nhóm không phải thủ tục hành chính đơn thuần. Danh mục bạn khai chính là ranh giới quyền của bạn: chỉ những gì nằm trong danh mục mới được bảo hộ trực tiếp. Khai thiếu thì đối thủ có thể đăng ký cùng tên cho phần bạn bỏ sót; khai tràn lan thì tốn phí, dễ vướng nhãn hiệu có trước, và tạo ra những phần quyền có nguy cơ bị chấm dứt vì không sử dụng.

Bài này giải thích nguồn gốc và logic của bảng phân loại, cách chọn nhóm theo mô hình kinh doanh thật, những nhóm hay bị hiểu nhầm và một quy trình soạn danh mục có thể dùng ngay.

Nguồn gốc và logic của hệ thống phân loại

Bảng phân loại ra đời từ Thoả ước Nice ký năm 1957 tại thành phố Nice, Pháp, do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) quản lý. Mục tiêu là để các cơ quan nhãn hiệu trên thế giới dùng chung một ngôn ngữ phân loại, giúp tra cứu và nộp đơn quốc tế dễ dàng. Nhiều nước không phải thành viên thoả ước vẫn áp dụng bảng này, và Việt Nam sử dụng nó trong thực tiễn đăng ký nhãn hiệu.

Bảng được sửa đổi định kỳ: có những phiên bản lớn cách nhau vài năm, và từ năm 2013 có thêm các bản cập nhật hằng năm. Mỗi lần sửa có thể thêm sản phẩm mới, chuyển một mặt hàng từ nhóm này sang nhóm khác, hoặc diễn đạt lại tiêu đề nhóm. Vì vậy khi soạn đơn, bạn phải dùng phiên bản đang được Cục Sở hữu trí tuệ áp dụng tại thời điểm nộp.

Logic phân loại hàng hoá chủ yếu dựa trên chức năng hoặc công dụng, sau đó tới vật liệu. Dịch vụ được phân theo ngành hoạt động. Mỗi nhóm có một tiêu đề khái quát, kèm chú giải giải thích những gì thuộc và không thuộc nhóm, và một danh sách dài các mục cụ thể. Chú giải là phần đáng đọc nhất nhưng thường bị bỏ qua, trong khi nó trả lời đúng những câu hỏi khó như phần mềm tải về thuộc nhóm nào, còn phần mềm dùng trực tuyến thì sao.

Các nhóm doanh nghiệp Việt hay gặp

Không cần thuộc 45 nhóm. Bảng dưới liệt kê những nhóm phổ biến với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, kèm lưu ý dễ nhầm. Tiêu đề nhóm được diễn đạt rút gọn, khi soạn đơn hãy dùng thuật ngữ chính thức.

NhómNội dung chính (rút gọn)Lưu ý dễ nhầm
3Mỹ phẩm, chế phẩm tẩy rửa, tinh dầuThực phẩm chức năng làm đẹp dạng uống không ở đây mà thường ở nhóm 5
5Dược phẩm, chế phẩm y tế, thực phẩm bổ sungCần chính xác về tính chất sản phẩm
9Thiết bị điện tử, phần mềm tải về được, ứng dụng di độngPhần mềm dạng dịch vụ trực tuyến thường thuộc nhóm 42
25Quần áo, giày dép, mũTúi xách ở nhóm 18, trang sức ở nhóm 14
29 và 30Thực phẩm chế biến; cà phê, trà, bánh kẹo, gia vịCà phê rang xay ở nhóm 30, đồ uống không cồn ở nhóm 32, bia ở nhóm 32
35Quảng cáo, quản lý kinh doanh, dịch vụ bán lẻ, bán buônKhông thay thế đăng ký cho chính hàng hoá
41Giáo dục, đào tạo, giải trí, tổ chức sự kiệnXuất bản sách điện tử trực tuyến cũng thường ở đây
42Dịch vụ khoa học, công nghệ, thiết kế, phần mềm dạng dịch vụDịch vụ thiết kế đồ hoạ cũng thuộc nhóm này
43Nhà hàng, quán cà phê, khách sạn, cung cấp chỗ ở tạm thờiBán cà phê đóng gói không thuộc nhóm 43
44Dịch vụ y tế, chăm sóc sắc đẹp, nông nghiệpSpa, thẩm mỹ viện ở nhóm này

Ví dụ cà phê cho thấy vì sao phải nghĩ theo mô hình kinh doanh chứ không theo cảm nhận. Một chuỗi quán cà phê vừa phục vụ tại chỗ, vừa bán cà phê đóng gói mang về, vừa bán qua sàn thương mại điện tử thì ít nhất cần nhóm 43 cho dịch vụ quán, nhóm 30 cho sản phẩm cà phê, và cân nhắc nhóm 35 cho dịch vụ bán lẻ. Chỉ đăng ký nhóm 43 thì người khác có thể đăng ký cùng tên cho cà phê đóng gói.

Nhóm 35: nhóm bị hiểu nhầm nhiều nhất

Nhóm 35 bao gồm gì. Nhóm này gồm dịch vụ quảng cáo, quản lý kinh doanh, hành chính văn phòng, và dịch vụ bán buôn, bán lẻ hàng hoá cho người khác. Điểm then chốt là chữ "cho người khác": quảng cáo sản phẩm của chính bạn không phải là cung cấp dịch vụ quảng cáo.

Hiểu nhầm thứ nhất: đăng ký nhóm 35 là bảo hộ mọi hàng hoá mình bán. Sai. Dịch vụ bán lẻ mỹ phẩm ở nhóm 35 bảo vệ tên cửa hàng của bạn với tư cách nơi bán, không thay thế việc đăng ký nhãn hiệu cho chính sản phẩm mỹ phẩm ở nhóm 3. Nếu bạn tự sản xuất mỹ phẩm và bán dưới tên riêng, nhóm 3 mới là nhóm cốt lõi.

Hiểu nhầm thứ hai: nhóm 35 là nhóm "phòng hờ" nên luôn khai. Không hẳn. Khai nhóm 35 có ích cho chuỗi bán lẻ, cửa hàng đa thương hiệu, sàn và đơn vị phân phối. Với nhà sản xuất chỉ bán buôn qua đại lý, nhóm 35 có thể không cần thiết, và mỗi nhóm thêm vào đều làm tăng phí cũng như khả năng gặp nhãn hiệu đối chứng.

Cách diễn đạt đúng. Thẩm định viên thường đòi diễn đạt cụ thể loại hàng hoá được bán lẻ, chẳng hạn dịch vụ bán lẻ quần áo, giày dép, thay vì chỉ ghi dịch vụ bán lẻ chung chung. Diễn đạt mơ hồ là lý do thường gặp khiến đơn bị yêu cầu sửa ở bước thẩm định hình thức.

Hàng hoá tương tự: vì sao khác nhóm vẫn có thể xung đột

Một hiểu lầm nguy hiểm là nghĩ rằng hai nhãn hiệu ở hai nhóm khác nhau thì không bao giờ xung đột. Bảng phân loại là công cụ hành chính, không phải ranh giới pháp lý tuyệt đối. Khi đánh giá khả năng gây nhầm lẫn, thẩm định viên và toà án xem xét sản phẩm có tương tự hay liên quan không dựa trên bản chất, công dụng, kênh phân phối, nhóm khách hàng, tính bổ trợ hoặc thay thế cho nhau.

Ví dụ, cà phê đóng gói ở nhóm 30 và dịch vụ quán cà phê ở nhóm 43 nằm ở hai nhóm, một bên là hàng hoá, một bên là dịch vụ, nhưng thường được coi là liên quan, vì người tiêu dùng có thể nghĩ chúng cùng một chủ. Quần áo ở nhóm 25 và túi xách ở nhóm 18 cũng vậy: cùng kênh bán, cùng khách hàng, thời trang thường mở rộng từ dòng này sang dòng kia. Ngược lại, hai mặt hàng cùng nhóm vẫn có thể không tương tự, như thuốc trừ sâu và chất tẩy rửa công nghiệp cùng xuất hiện trong một số tiêu đề nhóm rộng.

Hệ quả thực tế là khi tra cứu, đừng chỉ tra trong nhóm của mình. Tra thêm các nhóm liên quan theo chuỗi giá trị. Và khi đăng ký, hãy nghĩ về những nhóm mà đối thủ có thể dùng để "ăn theo" tên bạn mà vẫn khai là khác nhóm.

Ngoại lệ đáng chú ý là nhãn hiệu nổi tiếng: được bảo hộ cả cho hàng hoá không tương tự nếu việc sử dụng gây ấn tượng sai về mối liên hệ với chủ nhãn hiệu hoặc làm suy giảm khả năng phân biệt của nhãn hiệu đó. Nhưng chứng minh nổi tiếng tốn kém, đa số doanh nghiệp không nên trông vào con đường này.

Quy trình soạn danh mục sản phẩm, dịch vụ trong năm bước

Quy trình dưới đây giúp danh mục vừa đủ rộng để bảo vệ hoạt động kinh doanh, vừa đủ chính xác để qua thẩm định nhanh.

  1. Viết ra mô hình kinh doanh bằng lời thường. Bạn làm ra cái gì, bán cái gì, cung cấp dịch vụ gì, qua kênh nào, cho ai. Gồm cả những gì định làm trong khoảng ba năm tới.
  2. Chuyển từng hoạt động sang thuật ngữ của Bảng phân loại Nice. Dùng công cụ tra cứu trực tuyến của WIPO hoặc danh mục do Cục Sở hữu trí tuệ công bố. Ưu tiên các thuật ngữ đã có sẵn trong danh sách chính thức, vì chúng thường được chấp nhận mà không cần giải trình.
  3. Phân loại cốt lõi và mở rộng. Nhóm cốt lõi là nơi doanh thu chính đến hôm nay. Nhóm mở rộng là kế hoạch có thật. Loại bỏ những thứ chỉ "biết đâu sau này", vì không sử dụng lâu dài có thể khiến phần quyền đó bị chấm dứt theo yêu cầu của người khác.
  4. Tra cứu theo từng nhóm. Có nhóm sẽ sạch, có nhóm vướng đối chứng. Có khi nên bỏ một nhóm rủi ro cao để đơn ở các nhóm cốt lõi đi nhanh hơn, rồi nộp riêng nhóm đó sau khi đánh giá kỹ.
  5. Kiểm tra lại cách diễn đạt. Bỏ từ mơ hồ như "các sản phẩm khác", "v.v.". Với dịch vụ bán lẻ, nêu rõ hàng hoá được bán. Với phần mềm, nêu chức năng.

Ghi lại lý do chọn từng nhóm trong hồ sơ nội bộ. Khi doanh nghiệp đổi người phụ trách pháp chế, lý do này giúp người sau biết vì sao một nhóm có mặt hay vắng mặt, thay vì phải đoán.

Ví dụ giả định: ba mô hình kinh doanh và cách chọn nhóm

Ba ví dụ dưới đây là giả định để minh hoạ cách tư duy, không phải tư vấn cho trường hợp cụ thể.

  • Một thương hiệu mỹ phẩm thiên nhiên ở Cần Thơ, tự sản xuất xà phòng, tinh dầu, bán qua cửa hàng riêng và sàn thương mại điện tử: nhóm 3 là cốt lõi; nhóm 35 cho dịch vụ bán lẻ mỹ phẩm nếu muốn bảo vệ tên chuỗi cửa hàng; cân nhắc nhóm 44 nếu có kế hoạch mở spa cùng tên.
  • Một công ty phần mềm quản lý nhà hàng ở Hà Nội, cung cấp ứng dụng di động tải về và nền tảng web theo thuê bao: nhóm 9 cho phần mềm tải về; nhóm 42 cho phần mềm dạng dịch vụ; nhóm 41 nếu tổ chức khoá đào tạo người dùng dưới cùng tên.
  • Một hợp tác xã trồng bưởi ở đồng bằng sông Cửu Long, bán trái tươi và nước ép đóng chai: nhóm 31 cho trái cây tươi; nhóm 32 cho nước ép; cân nhắc nhãn hiệu tập thể nếu nhiều thành viên cùng dùng một tên.

Điểm chung của ba ví dụ: danh mục đi theo dòng tiền thật và kế hoạch thật, không theo danh sách mẫu chép từ đơn của người khác. Một danh mục tốt trông hơi "ngắn" so với kỳ vọng của chủ doanh nghiệp, nhưng mỗi dòng trong đó đều được bảo vệ chắc chắn.

Ngoài ra, cần nhớ rằng quyền nhãn hiệu không mở rộng được sau khi cấp văn bằng. Khi doanh nghiệp bước sang lĩnh vực mới, cách duy nhất là nộp đơn mới cho nhóm mới, với ngày nộp mới. Vì vậy rà danh mục nhãn hiệu nên nằm trong mọi kế hoạch mở rộng sản phẩm.

Câu hỏi thường gặp

Đăng ký thêm nhóm sau khi đã có văn bằng được không?

Không thể bổ sung nhóm vào văn bằng đã cấp. Bạn phải nộp một đơn mới cho nhãn hiệu đó với các nhóm mới, và đơn mới có ngày nộp riêng. Nếu trong thời gian đó có người nộp đơn tương tự cho nhóm ấy trước bạn, họ có thể được ưu tiên.

Phí đăng ký có tăng theo số nhóm không?

Có. Phí thường được tính theo từng nhóm, và một số khoản phí còn có thể tăng nếu mỗi nhóm có nhiều sản phẩm dịch vụ vượt quá một số lượng nhất định. Mức cụ thể nằm trong biểu phí hiện hành, nên kiểm trên cổng của Cục Sở hữu trí tuệ trước khi chốt danh mục.

Có nên chép nguyên tiêu đề nhóm vào danh mục để bảo hộ rộng nhất không?

Một số nước chấp nhận, nhưng cách hiểu phạm vi tiêu đề nhóm khác nhau giữa các hệ thống; châu Âu từng có án lệ IP Translator năm 2012 đòi người nộp phải diễn đạt đủ rõ. Ở Việt Nam, diễn đạt cụ thể an toàn hơn và giảm rủi ro bị yêu cầu sửa đổi.

Nhóm nào cho dịch vụ nhượng quyền thương mại?

Bản thân hoạt động tư vấn, hỗ trợ kinh doanh cho bên nhận quyền thường thuộc nhóm 35, nhưng nhãn hiệu được nhượng quyền vẫn phải được bảo hộ ở các nhóm hàng hoá dịch vụ mà bên nhận quyền thực sự cung cấp, chẳng hạn nhóm 43 cho chuỗi quán ăn.

Sản phẩm mới chưa có trong danh sách Nice thì ghi thế nào?

Bạn có thể tự diễn đạt bằng cách mô tả bản chất và công dụng, rồi xếp vào nhóm phù hợp theo nguyên tắc phân loại theo chức năng. Thẩm định viên có thể đề nghị sửa cách diễn đạt hoặc chuyển nhóm. Tham khảo cách các nước lớn đã chấp nhận thuật ngữ tương tự cũng giúp đỡ tốn công.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.