Liên tưởng thương hiệu là mọi thứ gắn với tên thương hiệu trong trí nhớ khách hàng: thuộc tính sản phẩm, lợi ích, tình huống sử dụng, kiểu người dùng, cảm xúc, nguồn gốc. Đo liên tưởng là xác định khách hàng gắn thương hiệu với những gì, mạnh tới đâu, tích cực hay tiêu cực, và có khác đối thủ không.
Có ba nhóm kỹ thuật chính: liên tưởng tự do (hỏi mở, để khách hàng tự nói), ma trận thương hiệu và thuộc tính (cho danh sách mô tả, hỏi thương hiệu nào phù hợp), và kỹ thuật định tính sâu như bản đồ khái niệm thương hiệu hay phỏng vấn bằng hình ảnh. Bẫy lớn nhất khi đọc kết quả là quên rằng thương hiệu lớn luôn được gắn với nhiều thuộc tính hơn chỉ vì nhiều người biết và dùng nó; phải so với giá trị kỳ vọng theo quy mô mới thấy liên tưởng nào thật sự đặc trưng.
Liên tưởng thương hiệu là gì và ba tiêu chí đánh giá
Trong bài viết năm 1993 trên Journal of Marketing, Kevin Lane Keller mô tả hiểu biết về thương hiệu như một mạng lưới trong trí nhớ, dựa trên mô hình mạng liên kết của tâm lý học nhận thức: tên thương hiệu là một nút, nối với các nút khác như "giá vừa phải", "dùng cho bữa sáng", "của người miền Tây", "an toàn cho trẻ". Khi một nút được kích hoạt, chẳng hạn khách hàng nghĩ tới bữa sáng cho con, sự kích hoạt lan sang các nút liên kết mạnh, và thương hiệu nào nối chặt với nút đó có cơ hội hiện ra.
Keller đề xuất đánh giá liên tưởng theo ba tiêu chí. Độ mạnh: liên tưởng có được nhớ ra dễ dàng, nhất quán không. Độ thuận lợi: khách hàng có coi liên tưởng đó là tốt, đáng mong muốn không. Độ độc đáo: liên tưởng có thuộc riêng thương hiệu hay đối thủ cũng có. Một liên tưởng mạnh nhưng không thuận lợi, như "rẻ nên chắc kém", là gánh nặng; một liên tưởng thuận lợi nhưng mọi thương hiệu đều có, như "chất lượng tốt", là điều kiện tham gia chứ không tạo khác biệt.
Nhóm Viện Ehrenberg-Bass bổ sung một góc nhìn: điều quan trọng không chỉ là nội dung liên tưởng mà là số lượng và độ phủ của các liên kết giữa thương hiệu với những tình huống mua. Thương hiệu được nhiều người gắn với nhiều tình huống thì có nhiều cơ hội được nghĩ tới. Hai góc nhìn này không loại trừ nhau; một bộ đo tốt nên cho thấy cả liên tưởng nào đặc trưng lẫn mạng liên tưởng rộng tới đâu.
Các kỹ thuật đo liên tưởng và khi nào dùng
Mỗi kỹ thuật đánh đổi giữa chiều sâu, khả năng so sánh và chi phí. Bộ nghiên cứu hình ảnh thương hiệu thường kết hợp một kỹ thuật mở để khám phá và một kỹ thuật đóng để đo định kỳ.
| Kỹ thuật | Cách làm | Điểm mạnh | Giới hạn |
|---|---|---|---|
| Liên tưởng tự do | Hỏi "Khi nghe tên X, anh chị nghĩ tới điều gì?" và ghi lại mọi từ, cụm từ theo thứ tự | Không gợi ý, phát hiện liên tưởng doanh nghiệp không ngờ tới; thứ tự nhắc cho biết độ mạnh | Tốn công mã hoá; người ít nói cho ít dữ liệu; khó so giữa các đợt nếu bộ mã thay đổi |
| Ma trận chọn thuộc tính | Cho danh sách mô tả, với mỗi mô tả hỏi thương hiệu nào phù hợp, được chọn nhiều thương hiệu hoặc không chọn | Nhanh, đo được nhiều thương hiệu cùng lúc, dễ theo dõi qua thời gian | Chỉ đo những gì có trong danh sách; chịu ảnh hưởng mạnh của quy mô thương hiệu |
| Thang điểm theo thuộc tính | Chấm mỗi thương hiệu từ 1 đến 5 hoặc 1 đến 7 trên từng thuộc tính | Cho mức độ chi tiết, dùng được cho phân tích thống kê | Bảng hỏi dài; người trả lời chỉ chấm được thương hiệu mình biết rõ; hiệu ứng hào quang |
| Bản đồ khái niệm thương hiệu | Người trả lời tự sắp các liên tưởng quanh tên thương hiệu và nối chúng bằng đường mạnh yếu | Thấy cấu trúc liên tưởng, không chỉ danh sách | Cần mẫu vừa phải và hướng dẫn kỹ; tổng hợp cần quy tắc rõ |
| Phỏng vấn sâu bằng hình ảnh | Người trả lời chọn hoặc mang theo hình ảnh đại diện cho cảm nhận về thương hiệu rồi giải thích | Khai thác liên tưởng cảm xúc, ẩn dụ khó nói bằng lời | Mẫu nhỏ, phụ thuộc kỹ năng người phỏng vấn, không đại diện thống kê |
| Đo ngầm | Đo thời gian phản ứng khi ghép thương hiệu với thuộc tính | Giảm thiên lệch trả lời theo mong đợi xã hội | Giá trị dự báo hành vi mua còn tranh luận; cần công cụ chuyên dụng |
Hai kỹ thuật định tính có nguồn gốc học thuật rõ. Bản đồ khái niệm thương hiệu (brand concept maps) được Deborah Roedder John cùng các cộng sự công bố trên Journal of Marketing Research năm 2006, với quy trình chuẩn hoá để gộp bản đồ cá nhân thành bản đồ chung. Phỏng vấn bằng hình ảnh ẩn dụ gắn với Gerald Zaltman tại Harvard, được biết dưới tên ZMET. Đo ngầm phát triển từ trắc nghiệm liên tưởng ngầm của Anthony Greenwald và cộng sự (1998); mức độ dự báo hành vi của các phép đo ngầm vẫn là chủ đề tranh luận trong tâm lý học.
Thiết kế danh sách thuộc tính cho khảo sát định kỳ
Danh sách mô tả trong ma trận chọn thuộc tính quyết định khảo sát thấy được gì và bỏ sót gì. Quy trình gợi ý:
- Khám phá trước bằng định tính: phỏng vấn sâu và liên tưởng tự do với 20–30 khách hàng thuộc nhiều nhóm, ghi lại ngôn ngữ họ dùng.
- Gom thành bốn nhóm mô tả: thuộc tính sản phẩm (thơm lâu, ít bọt), lợi ích (tiết kiệm thời gian, an tâm cho da trẻ), tình huống sử dụng (giặt đồ đi làm, giặt đồ em bé), và hình ảnh người dùng hoặc tính cách thương hiệu.
- Đưa vào cả mô tả tiêu cực như "đắt hơn mức xứng đáng", "lỗi thời", để không chỉ đo những điều thương hiệu mong được nghe.
- Viết bằng ngôn ngữ của khách hàng, mỗi mô tả một ý, tránh câu ghép kiểu "chất lượng và giá cả hợp lý".
- Giới hạn độ dài: khoảng 15–25 mô tả cho 5–8 thương hiệu là mức phần lớn người trả lời trực tuyến còn tập trung được; dài hơn, chất lượng trả lời giảm rõ.
- Xáo trộn thứ tự mô tả và thương hiệu cho từng người để tránh thiên lệch vị trí.
- Giữ ổn định qua các đợt, chỉ thêm bớt có kế hoạch và ghi chép lại; liên tưởng thay đổi chậm nên giá trị nằm ở chuỗi thời gian.
Cùng với danh sách thuộc tính, nên có một nhóm mô tả theo tình huống mua. Đây là phần nối trực tiếp với hành vi: biết thương hiệu được gắn với tình huống nào và bị bỏ trống ở tình huống nào cho nhóm thương hiệu một danh sách việc cụ thể hơn là biết nó được coi là "hiện đại" hay "đáng tin".
Bẫy quy mô thương hiệu và cách hiệu chỉnh bằng giá trị kỳ vọng
Từ thập niên 1980, Patrick Barwise và Andrew Ehrenberg đã chỉ ra một quy luật của khảo sát hình ảnh: người đang dùng một thương hiệu có xu hướng gắn nó với nhiều mô tả tích cực hơn hẳn người không dùng. Hệ quả là thương hiệu càng nhiều người dùng thì càng được chọn nhiều ở gần như mọi thuộc tính. Nhìn bảng thô, thương hiệu dẫn đầu luôn "thắng" trên mọi mặt, và thương hiệu nhỏ luôn "thua", điều này nói về quy mô nhiều hơn về hình ảnh.
Cách hiệu chỉnh phổ biến là so mỗi ô trong ma trận với giá trị kỳ vọng nếu liên tưởng chỉ phụ thuộc vào quy mô thương hiệu và mức phổ biến của thuộc tính. Giá trị kỳ vọng của một ô bằng tổng hàng nhân tổng cột chia tổng toàn bảng, giống cách tính trong kiểm định khi bình phương. Chênh lệch dương lớn cho thấy liên tưởng đặc trưng của thương hiệu; chênh lệch âm lớn cho thấy điểm yếu tương đối, kể cả khi con số thô vẫn cao hơn đối thủ.
Phân tích tương ứng, kỹ thuật thường dùng để vẽ bản đồ nhận thức từ ma trận này, cũng dựa trên các chênh lệch so với kỳ vọng. Vì vậy nếu nhóm định vị đã dùng bản đồ nhận thức, họ đang ngầm hiệu chỉnh quy mô; nhưng khi báo cáo con số thô cho ban lãnh đạo, phần hiệu chỉnh ấy thường bị bỏ mất. Một bảng hai cột, con số thô và chênh lệch so với kỳ vọng, đặt cạnh nhau, giải quyết được vấn đề này.
Ví dụ giả định: đọc ma trận liên tưởng của ba thương hiệu nước giặt
Giả định khảo sát 500 người mua nước giặt, hỏi ba mô tả cho ba thương hiệu A, B, C. Tỷ lệ người chọn: A được gắn với "dễ mua ở mọi nơi" 60%, "giá hợp lý" 45%, "an toàn cho da trẻ nhỏ" 50%; B lần lượt 30%, 20%, 40%; C lần lượt 15%, 10%, 9%. Nhìn thô, A dẫn ở cả ba mô tả, kể cả "an toàn cho da trẻ nhỏ". Đây là ví dụ giả định.
Tính giá trị kỳ vọng theo quy mô: tổng hàng của A là 155, B là 90, C là 34; tổng cột là 105, 75 và 99; tổng toàn bảng 279. Kỳ vọng của A ở "an toàn cho da trẻ nhỏ" là 155 × 99 / 279 ≈ 55, trong khi thực tế 50, tức thấp hơn kỳ vọng khoảng 5 điểm. Kỳ vọng của B ở cùng mô tả là 90 × 99 / 279 ≈ 32, thực tế 40, cao hơn kỳ vọng khoảng 8 điểm. A cao hơn kỳ vọng ở "giá hợp lý" khoảng 3 điểm; C nhỉnh hơn kỳ vọng ở "dễ mua" khoảng 2 điểm nhưng thấp hơn ở "an toàn" khoảng 3 điểm.
Đọc lại: B, dù nhỏ hơn A, đang sở hữu liên tưởng "an toàn cho da trẻ nhỏ" một cách đặc trưng. A mạnh nhờ quy mô và độ phủ, nhưng liên tưởng an toàn là điểm yếu tương đối. Nếu chỉ đọc bảng thô, nhóm thương hiệu A sẽ kết luận không cần làm gì ở mảng này, trong khi đó chính là khe hở B đang khai thác. Trước khi hành động, vẫn phải kiểm sai số: với mẫu 500 người, chênh lệch vài điểm ở một ô có thể là nhiễu, nên nên xác nhận qua nhiều đợt.
Những hiểu lầm phổ biến khi đo liên tưởng
"Thương hiệu được chọn nhiều nhất ở một thuộc tính là sở hữu thuộc tính đó." Như ví dụ trên, thương hiệu lớn được chọn nhiều ở mọi thuộc tính. Sở hữu nghĩa là cao hơn kỳ vọng theo quy mô, và ổn định qua nhiều đợt khảo sát.
"Càng nhiều thuộc tính tích cực càng tốt." Một hình ảnh dàn trải mọi điều tốt thường không có điểm nào đặc trưng. Điều cần là vài liên tưởng mạnh, thuận lợi, độc đáo gắn với lý do mua, cộng độ phủ rộng ở các tình huống mua.
"Liên tưởng tự do không đáng tin vì không định lượng được." Liên tưởng tự do được định lượng bằng cách mã hoá và đếm tần suất, thứ tự nhắc. Nó đặc biệt có giá trị để phát hiện liên tưởng tiêu cực hoặc lạ mà danh sách đóng không có.
"Đo ngầm cho biết sự thật mà khảo sát che giấu." Các phép đo ngầm giảm được một số thiên lệch, nhưng bằng chứng về khả năng dự báo hành vi mua còn hạn chế và gây tranh cãi. Nên dùng như nguồn bổ sung, không thay khảo sát và dữ liệu hành vi.
Câu hỏi thường gặp
Liên tưởng thương hiệu khác hình ảnh thương hiệu thế nào?
Hai khái niệm thường dùng gần như thay nhau. Theo cách Keller dùng, hình ảnh thương hiệu là tổng thể nhận thức phản ánh qua các liên tưởng mà khách hàng giữ trong trí nhớ. Liên tưởng là từng đơn vị cụ thể, còn hình ảnh là bức tranh chung do các liên tưởng đó tạo thành, với độ mạnh, độ thuận lợi và độ độc đáo khác nhau.
Nên đo liên tưởng với khách hàng hiện tại hay cả người chưa dùng?
Nên đo cả hai và tách riêng khi đọc. Người đang dùng cho biết thương hiệu giữ chân họ bằng gì; người biết mà chưa dùng cho biết rào cản. Do người dùng luôn chọn nhiều thuộc tính tích cực hơn, gộp hai nhóm mà cơ cấu mẫu thay đổi giữa các đợt sẽ tạo ra biến động giả.
Có thể dùng dữ liệu mạng xã hội để đo liên tưởng không?
Có thể dùng để khám phá: các từ thường đi cùng tên thương hiệu trong bình luận, bài đánh giá gợi ý liên tưởng đang lưu hành. Nhưng người viết trên mạng không đại diện cho người mua nói chung và nội dung bị chi phối bởi sự kiện, quảng cáo. Kết quả nên được kiểm lại bằng khảo sát có mẫu thiết kế đúng.
Bao lâu liên tưởng thương hiệu thay đổi được?
Liên tưởng đã ăn sâu thay đổi chậm, thường cần nhiều tháng đến vài năm truyền thông và trải nghiệm nhất quán. Liên tưởng tiêu cực sau một sự cố có thể hình thành nhanh hơn. Vì vậy đo liên tưởng mỗi quý hoặc nửa năm là đủ cho phần lớn thương hiệu; đo dày hơn chủ yếu thấy nhiễu.
Cỡ mẫu cho khảo sát liên tưởng nên là bao nhiêu?
Mỗi ô trong ma trận là một tỷ lệ, nên áp dụng logic sai số như các chỉ số khác: khoảng 400 người cho sai số quanh ±5 điểm với tỷ lệ gần 50%. Vì chỉ người biết thương hiệu mới chọn được nó, thương hiệu nhỏ có số người trả lời hiệu dụng ít hơn, nên cần mẫu tổng lớn hơn nếu muốn đọc chính xác cho chúng.
Kết quả đo liên tưởng dùng vào việc gì cụ thể?
Ba việc chính: kiểm tra định vị có được khách hàng tiếp nhận đúng không, chọn thông điệp và tình huống cho truyền thông dựa trên liên tưởng đặc trưng hoặc khe hở, và phát hiện sớm liên tưởng tiêu cực. Kết quả cũng là đầu vào cho phần phân tích hành vi trong định giá thương hiệu theo yêu cầu của ISO 10668.